HỘI NGHỊ SƠ KẾT 3 NĂM TRIỂN KHAI NGHỊ ĐỊNH 109/2018/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ

Vừa qua tại Thành phố Hồ Chí Minh trong 2 ngày 21 – 22 tháng 11 năm 2022, Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng với Bộ Khoa học và Công nghệ đã chủ trì tổ chức Hội nghị Sơ kết 3 năm thực hiện nghị định 109 về Nông nghiệp hữu cơ. Hội nghị là một diễn đàn tổng hợp với sự tham gia của 25 bài trình bày tham luận của các đại diện khác nhau trong chuỗi sản xuất bao gồm: Bộ Nông nghiệp (Agrotrade), Bộ Khoa học và Công nghệ, các Sở NN&PTNT các vùng Bắc, Trung, Nam, các doanh nghiệp sản xuất, các tổ chức chứng nhận, tổ chức NGO, các chuyên gia quốc tế cùng với 2 hội thảo chuyên đề riêng về tài liệu đào tạo và nâng cao năng lực cho các tổ chức chứng nhận hữu cơ.

 

Hội nghị đã thực sự sơ kết được các biến chuyển của NNHC Việt Nam từ khi ban hành Nghị định 109 ngày 29/08/2018 đến nay, trong đó có rất nhiều sự thay đổi tích cực: diện tích và số hộ dân sản xuất hữu cơ tăng lên rõ rệt với 174,351 ha (tăng 47% so với năm 2016), số địa phương tham gia sản xuất hữu cơ tăng từ 46 (năm 2018) lên 57 địa phương năm 2021, số lượng nhà sản xuất hữu cơ là 17.174 đơn vị, nhà chế biến là 555, nhà xuất khẩu là 60, nhà nhập khẩu là 40.

 

Nhiều văn bản hướng dẫn của Trung ương và địa phương đã được ban hành trong đó có 23 địa phương đã có văn bản hướng dẫn hỗ trợ phát triển NNHC trong đó 10 địa phương có Đề án Phát triển Nông nghiệp hữu cơ, 13 địa phương ban hành Kế hoạch triển khai Đề án Phát triển Nông nghiệp hữu cơ, 38 địa phương lồng ghép với các chính sách chung trên địa bàn tỉnh. Nguồn kinh phí triển khai phát triển NNHC cũng được kết hợp từ nhiều nguồn trong đó nguồn đóng góp từ doanh nghiệp đã chiếm 1 tỷ trọng khá cao (50 – 60%), còn lại là các nguồn ngân sách nhà nước hoặc dự án khác. Ngân sách tại các địa phương hỗ trợ phát triển NNHC trung bình từ 500 triệu đến 3 tỷ đồng, đặc biệt các địa phương huy động được từ doanh nghiệp có nguồn vốn lớn như Lâm Đồng (trên 50 tỷ đồng/năm), Vĩnh Phúc (trên 27 tỷ đồng/năm). Nhiều lĩnh vực đã được chứng nhận hữu cơ bao gồm Trồng trọt, Chăn nuôi, Thủy sản, Lâm nghiệp trong đó nhiều mô hình đã được dần hình thành tại các địa phương: ví dụ mô hình canh tác chè shan tuyết hữu cơ ở Lào Cai, Hà Giang, mô hình tôm – lúa tại Bạc Liêu, Kiên Giang, Cà Mau, mô hình lâm nghiệp thu hoạch quế hữu cơ tại Yên Bái.

 

Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng và công bố 08 TCVN bao gồm: yêu cầu chung về sản xuất, chế biến và ghi nhãn, tiêu chuẩn về trồng trọt, tiêu chuẩn về chăn nuôi, yêu cầu đối với các tổ chức chứng nhận, và một số sản phẩm đặc thù: gạo, chè, sữa, tôm và đang tiếp tục xây dựng thêm 5 tiêu chuẩn cho các sản phẩm đặc thù tiếp theo (mật ong, nấm, rau mầm, trồng trọt trong nhà màng và thùng chứa, rong biển). Trung tâm khuyến nông quốc gia cũng đang xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật cho 21 mô hình trong đó có 17 mô hình thuộc lĩnh vực trồng trọt (lúa, rau, chè, cà phê…), 02 mô hình lâm nghiệp (quế, đảng sâm), 02 mô hình chăn nuôi (gà thịt, lợn thịt).

 

nghị định 109/2018/NĐ-CP

Toàn cảnh Hội nghị

 

Hiên nay, Bộ NN&PTNT đã tiếp nhận hồ sơ và thực hiện cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chứng nhận sản phẩm phù hợp TCVN về NNHC cho 31 đơn vị của Việt Nam, đồng thời đã có 102 tổ chức đánh giá sự phù hợp trên đối tượng thử nghiệm là đất, phân bón, thuốc BVTV… Hiện tại cũng đã có 01 tổ chức chứng nhận của Việt Nam được công nhận đủ năng lực chứng nhận theo tiêu chuẩn hữu cơ Nhật Bản JAS.

 

Báo cáo của AgroTrade cũng chỉ ra một số khó khăn bất cập trong quá trình triển khai nghị định như diện tích làm NNHC còn manh mún, những vùng thuận lợi làm hữu cơ phần lớn là vùng trung du miền núi, địa bàn bị chia cắt khó áp dụng quy mô lớn nên giá thành sản phẩm còn cao. Tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài, chưa được kiểm tra đánh giá để công bố hài hòa với tiêu chuẩn quốc gia được áp dụng tại Việt Nam do đó gây khó hiểu cho người tiêu dùng. Danh sách vật tư đầu vào chưa có tiêu chuẩn và hướng dẫn cụ thể, gây lúng túng cho người sản xuất.

 

Đặc biệt thị trường còn có sự cạnh tranh không lành mạnh giữa sản phẩm hữu cơ có chứng nhận và sản phẩm hữu cơ tự xưng khiến người tiêu dùng nhầm lẫn và không phân biệt được sự khác biệt của sản phẩm hữu cơ và sản phẩm thông thường.

 

nghị định 109/2018/NĐ - CP

Đông đảo đại diện các bên tham gia Hội nghị qua zoom online

 

Từ góc nhìn cá nhân khi quan sát các chính sách, hoạt động, thành tựu và khó khăn của ngành trong thời gian vừa qua, tôi muốn đưa ra môt vài tranh luận quan trọng mà các ban ngành cần có chiến lược quan tâm để rộng cửa cho NNHC Việt Nam phát triển:

 

1. Ưu tiên chính sách thúc đẩy hay tổ chức hoạt động tạo ra sức kéo của thị trường

Các hoạt động chính sách hiện nay quan tâm và đầu tư nhiều nguồn lực vào việc tuyên truyền, thúc đẩy sản xuất, thành lập mô hình nhưng chưa tập trung vào việc làm thương hiệu truyền thông tạo sức kéo cho ngành. Một việc rõ ràng nhất cần làm đó là nghị định 109 ra đời chủ yếu tạo hành lang pháp lý để kiểm soát việc sử dụng từ ngữ hữu cơ và việc dán nhãn hữu cơ nhưng bản thân logo chứng nhận hữu cơ hoàn toàn chưa được quan tâm đúng mức để quảng bá đến nhiều người tiêu dùng biết hơn, tạo một niềm tin, một quyền lực cho logo này làm đối trọng với các logo hữu cơ khác đang được nhận diện rất tốt trên thị trường như EU, USDA.

 

2. Tiêu chuẩn và việc xây dựng các tiêu chuẩn hữu cơ đặc thù

Hiện TCVN đã và đang được xây dựng nhưng chưa song hành với sự phát triển của thực tế sản xuất NNHC tại Việt Nam. NNHC và các mô hình của nó vẫn còn rất mới cần nhiều cải thiện, phát triển và tích lũy kinh nghiệm do đó tiêu chuẩn chi tiết cho các sản phẩm đặc thù liệu có cần thiết và có thể áp dụng hiệu quả cho thực tế sản xuất? Nếu tiêu chuẩn không được xây dựng phù hợp có thể lại chính là rào cản cho việc phát triển của sản phẩm đó trên thị trường hữu cơ.

 

3. Việc quản lý vận hành của các tổ chức chứng nhận

Bộ NN&PTNT đã cấp chứng nhận đăng ký hoạt động chứng nhận sản phẩm phù hợp TCVN về NNHC cho 31 tổ chức. Mặc dù các tổ chức phải tuân thủ ISO 17065 hoặc nghị định 107 cho các tổ chức chứng nhận nhưng mỗi tổ chức áp dụng 1 quy trình, biểu mẫu khác nhau sẽ gây khó khăn cho việc giám sát chất lượng đánh giá.

Đồng thời để những chứng nhận này được công nhận áp dụng cho việc xuất khẩu sẽ gặp không ít khó khăn do quy trình biểu mẫu khác nhau. Nên chăng Bộ NN trở thành đầu mối để khâu nối, tổ chức đào tạo và chuẩn hóa các biểu mẫu, quy trình chứng nhận để các chứng chỉ này trở nên đáng tin cậy hơn trên cả thị trường nội địa và phục vụ đánh giá chứng nhận cho quá trình xuất khẩu?

 

4. Duy trì tính minh bạch và liêm chính của thị trường

Việc giám sát thị trường và xây dựng chế tài xử lý chi tiết cho việc lạm dụng và sử dụng sai nhãn mác là một hoạt động cực kỳ quan trọng, có vài trò duy trì tính liêm chính và sự phát triển của thị trường hữu cơ. Nhưng đây là một hoạt động nhạy cảm, dài hơi và rất nhiều khó khăn và liệu Nhà nước có thể thực hiện hiệu quả hay một đơn vị phi lợi nhuận như hiệp hội hoặc 1 tổ chức tư nhân có thể kiểm soát hiệu quả hơn? 

 

5. Nông nghiệp hữu cơ dành cho người thu nhập cao?

Trong hội thảo có một quan điểm của một vị lãnh đạo cho rằng nông nghiệp hữu cơ sẽ là NN tạo ra sản phẩm phục vụ cho người có thu nhập cao và không thể áp dụng đại trà tránh sai lầm đã từng xảy ra như tại Srilanka khi chính phủ muốn áp dụng NNHC ở diện rộng. Tôi không đồng tình với quan điểm cực đoan về việc áp dụng NNHC diện rộng toàn quốc gia nhưng tôi cho rằng NNHC cũng dành cho người nông dân nghèo tại các vùng khó khăn cải thiện cuộc sống và bảo vệ môi trường. Đây là sự kết nối tuyệt vời nhằm rút ngắn khoảng cách về giàu nghèo cũng như tư duy, suy nghĩ của cả 2 nhóm đối tượng thông qua các doanh nhân, doanh nghiệp xã hội có trách nhiệm với cộng đồng.

Phạm Minh Đức – Phó Chủ tịch Hiệp hội NNHC VN, Giám đốc công ty TNHH Ecolink