THỊ TRƯỜNG TRÀ TRONG NƯỚC VÀ TRÀ HỮU CƠ

THỊ TRƯỜNG TRÀ TRONG NƯỚC VÀ TRÀ HỮU CƠ

     21/5 vừa qua là ngày chè thế giới, những người trong ngành sản xuất, chế biến, kinh doanh trà đã có những buổi gặp gỡ, chia sẻ và để thúc đẩy sự phát triển của ngành trà Việt Nam. Chúng ta cùng tìm hiểu một số thông tin về ngành trà và thị trường trà trong nước nói chung và hữu cơ nói riêng.

Ảnh: Họp mặt Ngày Trà Thế Giới 21/05 tại Hà Nội.            Nguồn: FB: yeutraviet

     Theo thông tin từ Hiệp Hội Chè Việt Nam (Vitas), trà là thức uống phổ biến cả ở Việt Nam và quốc tế, toàn thế giới trung bình tiêu thụ khoảng 4 triệu tấn/năm (số liệu 2020). Việt Nam 1 trong những nước tốp đầu về sản xuất và xuất khẩu chè trên thế giới (đứng thứ 5 về diện tích canh tác và thứ 6 về sản lượng).

     Cả nước có 34 tỉnh thành phố trồng trà, với diện tích 130,000 ha, năng suất trung bình 8 tấn tươi/ha/năm. Tổng sản lượng 192 ngàn tấn khô với hơn 170 giống chè khác nhau, một số giống có hương vị đặc trưng được thế giới ưa chuộng. Sản phẩm trà thông thường của Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu thị trường dễ tính, và sản phẩm không có chứng nhận còn gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận thị trường khó tính (EU, Mỹ). Riêng sản phẩm hữu cơ có thể dễ dàng xâm nhập thị trường này nhưng số lượng còn rất hạn chế.

     Trà xanh là sản phẩm chiếm lượng tiêu thụ lớn trong nhu cầu của thị trường trong nước, đặc biệt trà được tiêu thụ mạnh trong các dịp lễ tết hay các sự kiện quan trọng dùng để biếu tặng, làm quà. Tổng lượng tiêu thụ trong nước là khoảng 45,000 tấn với giá bán thị trường 150,000 vnd. Doanh thu từ chè trong nước là 315 triệu USD chiếm 57% doanh thu toàn ngành (552 triệu USD). Như vậy, sản lượng bán trong nước chỉ chiếm 23,4% (45 nghìn tấn so với tổng số 192 nghìn tấn) nhưng đóng góp tới gần 60% giá trị toàn ngành cho thấy tiềm năng phát về giá trị của thị trường trong nước lớn và hiệu quả hơn hẳn so với thị trường xuất khẩu.

     Hiện nay, thị trường nội địa Việt Nam ở hai miền tiêu thụ sản phẩm chủ yếu từ 2 vùng Thái Nguyên phía Bắc và Bảo Lộc (B’ Lao) phía Nam, sản phẩm trà Shan Tuyết gần đây được nhiều người đón nhận hơn. Ngoài ra người tiêu dùng Việt Nam cũng yêu thích các loại trà ướp hương (sen, nhài, sói, ngâu), một số sản phẩm trà có nguồn gốc Đài Loan như Oolong, Trà sữa cũng được đón nhận trong vài năm qua. Mặc dù tiêu thụ nhiều và giá trị cao hơn so với xuất khẩu nhưng vấn đề dư lượng thuốc BVTV trên chè nội tiêu là một dấu hỏi lớn. Nhiều vùng chè đặc sản, người dân thậm chí trồng những luống chè riêng để dành cho gia đình hoặc người quen sử dụng đặt ra băn khoăn lớn cho người viết bài này. Trong gần 10 năm qua, tình hình lạm dụng thuốc BVTV đã được kiểm soát tốt hơn qua các chứng nhận ViepGap và các chứng nhận khác nhưng vẫn cần được triển khai sâu rộng và thực tế hơn nữa.

     Với thế mạnh về sản xuất của ngành chè của Việt Nam thì trà hữu cơ xuất hiện là không bất ngờ khi một số Doanh nhân nước ngoài đến Việt nam đầu tư sản xuất và đồng thời có sự hỗ trợ đồng hành hiệu quả của một số dự án phát triển (CIDSE- từ 1999; ADDA- từ 2004) nhưng sản phẩm trà hữu cơ chủ yếu được sản xuất đáp ứng nhu cầu của thị trường xuất khẩu.

     Hiện nay do xu thế phát triển và nhu cầu của thị trường trong nước nhiều doanh nghiệp đã và đang đăng ký làm chứng nhận hữu cơ cho trà nhưng thị trường chưa thực sự phát triển mà ở mức độ sơ khai do nhận thức và thói quen của người tiêu dùng với sản phẩm hữu cơ chưa thể thay đổi ngay. Một nguyên nhân nữa là do các doanh nghiệp trà hữu cơ xuất khẩu chưa tích lũy đủ kiến thức để sản xuất và phương thức tổ chức bán hàng đáp ứng sát nhu cầu của người tiêu dùng nội địa mà vẫn bán những sản phẩm mà mình có thế mạnh sản xuất do đó người tiêu dùng chưa mặn mà và thấy được sự khác biêt đủ để tạo nên một xu thế sử dụng lớn.

Ảnh 2: Chè Shan Tuyết Cổ thụ – Sùng Đô, Văn Chấn, Yên Bái

     Vài năm trở lại đây xuất hiện một xu hướng uống trà như một trải nghiệm sang trọng và lịch lãm với rất nhiều loại trà sản xuất theo quy trình của Trung Quốc (Phổ Nhĩ, Thiết Quan Âm, Hồng Trà, Bạch Trà Mẫu Đơn…), nhiều sản phẩm trong số này được sản xuất từ nguyên liệu trà Shan Tuyết cơ bản rất sạch hóa chất nhưng không cần chứng nhận hữu cơ, do bản thân chất lượng trà và phong cách uống đã mang lại giá trị gia tăng nhiều hơn so với chứng nhận hữu cơ. Đây là một xu thế tốt cũng có  thể thúc đẩy thị trường trà trong nước nói chung và trà có chứng nhận hữu cơ nói riêng.

     Tóm lại, trà Việt Nam có một nền sản xuất tốt và thị trường nội địa tiềm năng với người tiêu dùng sẵn sàng chi tiêu với mức giá khá cao, tuy nhiên cần nâng cao nhận thức, hiểu biết cả về trà và hữu cơ cho người tiêu dùng đồng thời những người sản xuất kinh doanh trà hữu cơ cũng cần điều chỉnh để sản phẩm đến gần với nhu cầu thị trường hơn.

Phạm Minh Đức – Giám đốc công ty chè Ecolink