CÁC NGUỒN DINH DƯỠNG SỬ DỤNG TRONG TRỒNG TRỌT HỮU CƠ (Tài liệu hướng dẫn của PGS Việt Nam)

CÁC NGUỒN DINH DƯỠNG SỬ DỤNG TRONG TRỒNG TRỌT HỮU CƠ (TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN CỦA PGS VIỆT NAM)

PHÂN Ủ (Compost)

Phân ủ được làm từ phần lớn các vật liệu thực vật và phân động vật. Một lưu ý quan trọng trong làm phân ủ là phải thường xuyên thu gom các vật liệu hữu cơ, đống ủ phải tăng nhiệt độ và được che phủ tránh mưa chảy vào bên trong đống ủ. Nhiệt độ đống ủ tăng cao có ý nghĩa quan trọng tiêu diệt mầm bệnh và giúp cho tiến trình phân hủy xảy ra nhanh hơn. Để duy trì tốt các điều kiện cho vi sinh vật (VSV) hoạt động, đống ủ có thể được đảo lên. Sản phẩm sau khi kết thúc sẽ là một hỗn hợp trông giống như đất gọi là phân ủ.
Để có phân ủ tốt, quan trọng là phải có một hỗn hợp các vật liệu ủ tốt có hàm lượng đạm (N) và các bon (C). Vật liệu có hàm lượng đạm cao bao gồm tất cả các loại phân động vật, các lá cây tươi… Vật liệu có hàm lượng các bon (C) cao gồm các vật liệu hóa gỗ như thân cây, rơm rạ, bã mía, vv..
Nguyên liệu: Một hỗn hợp khoảng 50% các vật liệu thực vật xanh còn tươi, 25 – 30% rơm rạ, trấu và 20 – 25% phân động vật sẽ cho thành phẩm phân ủ có chất lượng tốt. Cần lưu ý:
1. Chọn vị trí cao ráo không bị úng ngập, tránh chọn dưới các cây có bộ rễ có thể xâm lấn vào đống ủ có thể làm hỏng rễ cây trong quá trình đống ủ hoạt động
2. Thu gom dần tất cả các vật liệu ủ để vào nơi chuẩn bị đặt đống ủ và che phủ. Đảm bảo đủ nguyên liệu trước khi ủ
3.Tạo đống ủ bằng cách lần lượt đặt từng lớp vật liệu ủ – mỗi lớp dày khoảng 15 – 20 cm. (nên để đống ủ cao khoảng 1,5 m):
– Đặt các cành, que nhỏ, các vật liệu gỗ làm đáy đống ủ
a) Rải lớp rơm rạ, thân lá cây ngô hoặc vỏ trấu (vật liệu nâu, giàu C)
b)1 lớp phân động vật (ướt) phủ lên
c) Lớp vật liệu xanh (các tàn dư thực vật, cành lá nhỏ còn tươi hoặc cỏ)
a) Lặp lại lần lượt các lớp như trên
– Lớp trên cùng đống ủ – nên rắc một lớp đất mỏng phủ lên trên (khoảng 25 mm ).
– Che phủ đống ủ bằng các bao tải, bạt, (để ngăn cho mưa không chảy vào trong đống ủ)
4. Kiểm tra đống ủ sau 3 ngày và sau đó theo dõi đống ủ mỗi tuần 1 lần
5. Đảo đống ủ sau 2 tuần và đảo lại lần nữa sau đó 3 tuần
– Nên đặt đống ủ cao chừng 1,5 m – Có thể bổ sung thêm các vi sinh vật hữu ích (EM) vào đống ủ để giúp quá trình phân hủy nhanh hơn, rút ngắn thời gian ủ (thường từ 2 – 3 tháng tùy điều kiện thời tiết)
– Không nên bổ sung vôi sẽ làm ức chế hoạt động của các VSV
– Không bổ sung các dinh dưỡng tổng hợp của N-P-K
Nhiệt độ là một chỉ thị rất tốt để biết diễn biến đang xảy ra giữa các loại vật liệu trong đống ủ. Ở giai đoạn đầu, tiến trình xảy ra trong đống ủ chủ yếu được thực hiện bởi hoạt động của các vi sinh vật và hoạt động này được đánh giá qua nhiệt độ của đống ủ. Nhiệt độ đống ủ sẽ tăng lên khi các vi sinh vật hoạt động mạnh và sẽ giảm xuống khi chúng kém hoạt động. Khi đống ủ được chuẩn bị tốt, nhiệt độ trong đống ủ bắt đầu tăng lên chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi tạo đống ủ và đạt tới nhiệt độ 50 – 60 °C trong vòng 2 – 3 ngày, duy trì trong khoảng 1 – 2 tuần. Nhiệt độ cao duy trì trong một thời gian dài rất quan trọng giúp tiêu diệt mầm bệnh và hạt cỏ. Nhiệt độ giảm xuống từ từ vì các vi sinh vật bắt đầu thiếu oxy. Bởi thế, đống ủ cần được đảo trộn, các vật liệu từ phía bên ngoài được trộn với các vật liệu từ phía bên trong đống. Nhiệt độ sẽ lại tăng lên. Tiếp tục kiểm soát nhiệt độ và đảo trộn lại khi nhiệt độ giảm xuống cho đống ủ khi chưa được hoàn tất.
Một phân ủ tốt có chứa trung bình 2% N, 1% P và 2.5% K. Trường hợp sử dụng phân động vật là phân trâu bò để ủ, thành phân nguyên liệu xanh không đủ, có thể bổ sung bã đậu tương, bã dầu lạc hoặc hột đậu tương được nghiền vỡ vào ủ cùng để tăng lượng dinh dưỡng trong thành phẩm sau ủ.
Loại đất và độ phì của đất đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định sử dụng bao nhiêu phân ủ. Và đương nhiên bản thân chất lượng của phân ủ cũng rất quan trọng. Ví dụ như nếu phân ủ chỉ chứa 1% N thay vì 2%, khi đó bạn sẽ phải bón gấp đôi lượng phân. Sử dụng phân ủ thường xuyên sẽ làm tăng lượng mùn trong đất. Do mùn chứa nhiều dinh dưỡng, vì thế lượng phân ủ cần cho cây trồng sẽ được giảm xuống theo thời gian khi đất đã được bồi bổ trong một hệ sinh thái đất năng động.
Khi tất cả lượng phân ủ và vật liệu thực vật từ cây phân xanh không đủ đáp ứng, các đầu vào khác có thể được sử dụng để hỗ trợ như phân vi sinh, đá phốt phát (lân tự nhiên) và phân bón dung dịch. Tuy nhiên các đầu vào này không bao giờ được sử dụng thay thế cho phân ủ và các cây phân xanh.
 
phân hữu cơ

Anh nông dân Nguyễn Điệp từ PGS Tuyên Quang bên đống phân ủ đạt chuẩn của mình

CÂY PHÂN XANH & CÂY CHE PHỦ (Green manure/ Cover crop)

Cây phân xanh được trồng để cung cấp dinh dưỡng và che phủ mặt đất, kìm hãm cỏ dại phát triển và cung cấp một lượng đạm vào trong đất. Cây phân xanh gồm có một số loại cỏ, cây họ đậu và các loài thực vật từ các nhóm khác. Cây họ đậu thường có lợi thế sử dụng do chúng có khả năng cố định đạm trong không khí. Các cây cố định đạm có thể được trồng xen hoặc được luân canh với cây trồng chính hoặc sử dụng trồng làm hàng rào chắn.
Cây che phủ thường là cây dạng bụi hoặc bò lan, sinh trưởng chậm nhưng có thân lá rậm rạp được trồng chủ yếu để che phủ và bảo vệ đất, hạn chế cỏ dại và xói mòn. Nông dân hữu cơ có nhiều cách trồng cây phân xanh. Việc nông dân trồng rau hữu cơ bổ sung cây phân xanh vào trong cơ cấu luân canh cây trồng có ý nghĩa rất quan trọng. Trồng một vụ đậu trong năm sẽ bù đắp lại một phần dinh dưỡng cho đất đã bị lấy đi theo sản phẩm được thu hoạch. Các cây họ đậu như đậu xanh, đậu đen khi sử dụng với mục đích trồng là cây phân xanh sẽ không thu hoạch quả. Khi cây ra hoa, có hàm lượng tích lũy đạm cao nhất sẽ được vùi vào đất để ải trước khi trồng cây mới sẽ cung cấp một lượng dinh dưỡng lớn vào đất. Cây họ đậu tốt nhất nên trồng trước khi gieo trồng các cây có nhu cầu sử dụng nhiều đạm như cải bắp. Nếu một cây họ đậu được trồng với mục đích làm cây phân xanh nó có thể cố định được 180 kg N/1 ha tùy thuộc vào mùa vụ và độ ẩm đất. Đậu tương được thu hoạch sau 64 ngày có thể đạt khoảng 106 kg N/ha trong mùa khô và 140 kg N/ha trong mùa mưa. Đậu đen được thu hoạch sau sau 60 ngày có thể đạt 50 – 100 kg N/ha. Cũng có một số cách khác đó là trồng cây phân xanh trong vùng đệm và cắt chúng sử dụng làm vật liệu che phủ mặt đất hoặc ủ phân. Cách nữa là trồng một số cây phân xanh xen lẫn với cây rau hoặc trồng chúng vào lúc giãn mùa vụ. Nếu trồng cây phân xanh trong một khoảng thời gian ngắn sau đó để đất nghỉ không canh tác trước khi vào vụ mới là một cách lý tưởng nhất.
 

CÁC KHOÁNG TỰ NHIÊN (Minerals)

Tiêu chuẩn hữu cơ PGS liệt kê các khoáng đầu vào khác nhau được phép sử dụng và cả các đầu vào không được sử dụng tùy tiện (Xem danh sách các đầu vào của PGS).
Lân (đá apatit) – một loại khoáng lân tự nhiên sẵn có ở Lào Cai nhưng hiện tại nhà cung cấp không sẵn lòng bán sản phẩm khi chỉ đặt mua với một số lượng nhỏ. Tỉ lệ bón đá lân khác nhau nhưng nhìn chung khoảng 100 kg/sào. Có thể dùng Lân nung chảy thay thế lân supe không được phép dùng trong sản xuất hữu cơ. Ngoài ra, các xương động vật thải trong nhà bếp có thế gom giữ lại, nung và tán ra bón cung cấp cho cây
Kali – Có thể lấy từ tro thực vật hoặc củi (8% K và 50% C). Tập quán truyền thống thường hun rơm và trấu để tạo nguồn kali gọi là biochar. Cây dã quỳ, thân lá quả chuối có hàm lượng kali cao có thể đưa vào đống ủ hoặc tạo dung dịch tưới bổ sung vào các giai đoạn hoa quả.
Vôi (CaO) – Có thể được sử dụng để điều chỉnh pH của đất. 
 

PHÂN HỮU CƠ SINH HỌC (Biofertilizer)

Chỉ được phép sử dụng loại phân đã được đánh giá và chấp thuận trong OMRI listed! Phân hữu cơ thương mại nội địa được phép sử dụng: như BIOGRO được phòng thí nghiệm trường đại học Hà Nội phát triển và đã được chấp thuận như một sự chứng nhận cho các sản phẩm hữu cơ xuất khẩu từ Việt Nam hiện nay. Tỉ lệ bón khuyến cáo là 100 kg/sao/vụ.
Phân hữu cơ OM60 của công ty năng lượng sạch Sơn La đã được PGS đánh giá, chấp thuận với hàm lượng vật chất hữu cơ đạt 60%. Được sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu đã được Hiệp Hội đánh giá nguyên liệu hữu cơ JAS (OMJ) cấp chứng nhận được phép sử dụng cho sản xuất hữu cơ.
 

PHÂN DUNG DỊCH (Liquit)

Phân dung dịch có tác dụng cung cấp những dinh dưỡng đa, vi lượng cho cây trồng. Phân dung dịch có thể được sản xuất tại ngay các cơ sở sản xuất từ các vật liệu động thực vật khác nhau. Cách phổ biến là cho vật liệu thực vật, phân ủ hoai và một ít đường vào cùng một cái xô sau đó đổ nước vào khuấy đều lên và để khoảng 12 giờ. Từ dung dịch này lấy ra khoảng 1 lít hòa với 10 – 20 lít nước. Có thể bón, tưới hoặc phun khắp cả cây. Nên sử dụng dung dịch ngay sau đó là tốt nhất. Nếu dung dịch để lâu đã có mùi hãy đưa vào đống ủ. Phân dung dịch có thể được tưới hàng tuần qua các giai đoạn phát triển chính của cây. Khi một cây trồng như rau xà lách đã cuốn bắp thì nên dừng bón nhưng các loại rau ăn quả như cà chua thì có thể bón thúc hỗ trợ trong suốt vụ sinh trưởng vì nó cho quả trong cả một thời gian dài hơn. Hiện có các loại phân dung dịch hoặc phân bón lá thương mại phổ biến trên thị trường nhưng nông dân PGS phải cân nhắc để biết chắc chắn rằng chúng có tuân thủ theo các tiêu chuẩn hữu cơ hay không.
 
Theo: Tài liệu hướng dẫn của PGS Việt Nam

Tags: daotaohuuco, dinh dưỡng trong trồng trọt hữu cơ, PGS, PGSVietnam, phân hữu cơ, quy định kỹ thuật hữu cơ, tiêu chuẩn hữu cơ, VOAA