NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ - NỀN NÔNG NGHIỆP CỦA TƯƠNG LAI


Cuộc cách mạng xanh khởi đầu từ hơn 4 thập kỷ qua đã tạo ra một bước đột phá về năng suất và sản lượng trong nông nghiệp, nhưng đồng thời cũng dẫn đến sự gia tăng nhanh mức độ ô nhiễm môi trường do việc sử dụng ngày càng nhiều phân hoá học, thuốc trừ sâu, bệnh ,cỏ dại…Sự thành công ngoạn mục của cuộc cách mạng xanh một thời đã tạo ra định kiến tai hại là muốn đạt năng suất cao nhất thiết phải dùng lượng hoá chất lớn, làm cho dư lượng hoá chất trong nông sản và trong môi trường ngày càng cao, đến mức báo động. Nông dân ngày càng có xu hướng sử dụng càng nhiều hoá chất độc hại để đạt năng suất cao và sản phẩm trông đẹp mắt. Điều này đặc biệt nghiêm trọng đối với rau quả. Hậu quả là tình trạng ngộ độc thực phẩm do dư lượng hoá chất nông nghiệp ngày càng tăng và không chỉ giới hạn trong số người phải vào bệnh viện cấp cứu mà cả ở sự tích luỹ âm thầm dư lượng hoá chất ở số người lớn hơn nhiều. Mặt khác, tình trạng sử dụng hoá chất nói trên còn phá vở sự cân bằng sinh học trong môi trường vì các loài sinh vật có ích bị thiệt hại nhiều hơn là côn trùng có hại. Mối hiểm họạ đó đã được cảnh báo trên thế giới từ nhiều năm trước. Từ đó nhu cầu nông sản an toàn ngày càng trở nên bức thiết, thúc đẫy sự ra đời và phát triển  các loại hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ [NNHC], với ý nghĩa không dùng hoá chất độc hại và chú trọng bảo vệ môi trường.
Mục tiêu của NNHC là làm sao đạt năng suất nuôi trồng cao với phẩm chất tốt mà vẫn không phải sử dụng hoá chất, tiết kiệm được năng lượng, bảo vệ tốt đa dạng sinh học, môi trường và tài nguyên thiên nhiên. NNHC sử dụng chủ yếu các nguồn tài nguyên tại chỗ với các biện pháp nông học, sinh học, cơ học.
NNHC có thể đạt được năng suất như sản xuất nông nghiệp thông thường không?
            Câu trả lời của UNDP [Chương trinh phát triển Liên Hiệp Quốc] là: có.  Muốn vậy NNHC phải thích hợp với điều kiện sinh thái trong vùng, sao cho có thể đảm bảo được khả năng tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên: nước, độ phì của đất, tính đa dạng sinh học…
NNHC có mang lại nhiều lợi ích hơn cho người sản xuất không?
 Hai trường hợp dưới đây sẽ là câu trả lời thoả đáng .
Ở nước Benin thuộc châu Phi, trước kia những người nông dân trồng rau sử dụng hoá chất để phòng trừ sâu bệnh với liều lượng ngày càng cao. Để kiếm lời, thậm chí họ sử dụng cả một số loại thuốc trừ sâu đôc hại đã bị cấm và cũng không hề tuân thủ số ngày tối thiểu ngưng phun thuốc trước khi thu hoạch. Trước tinh hình đó, OBEPAB, một tổ chức phi chính phủ, quyết định giúp nông dân thay đổi tập quán canh tác nói trên bằng cách mở các lớp tập huấn về tác hại của thuốc hoá học, đặc tính các loại sâu bệnh và các loại côn trùng có ích, khả năng kiểm soát sâu bệnh bằng các biện pháp canh tác và sinh học. Một loạt thí nghiệm để chứng minh được triển khai và thu được kết quả rất thuyết phục đối với nông dân. Ở lô phun thuốc trừ sâu Decis [loại thuốc do nông dân chỉ định] 100% thiên địch [côn trùng có ích] bị diệt, nhưng chỉ 80% sâu bị chết. Phun dung dịch chiết xuất từ lá đu đủ diệt được 62% sâu hại, nhung chỉ làm thiệt hại 40% thiên địch; còn ở lô phun dung dịch chiết xuất từ lá cây neem [một giống cây sầu đâu] 72% sâu hại bị diệt và chỉ 33% thiên địch bị chết. Tất nhiên là chi phí phun Decis cao hơn nhiều so với phun dung dịch chiết xuất từ hai loại lá cây.  Cùng với sự tuyên truyền về rau an toàn, những người nông dân áp dụng biện pháp sinh học để trừ sâu đã dễ dàng tiêu thụ sản phẩm của mình với mức lời cao hơn và kết quả đó được nhân rộng nhanh chóng.
Có một lịch sử rất thú vị về sự ra đời của hợp tác xã sản xuất trái cây ở vùng Zurich phía bắc Thuỵ Sỹ. Ý thức được tầm quan trọng và triển vọng của NNHC, đầu tiên ba người nông dân đã thoả thuận cùng nhau hợp tác áp dụng NNHC trên vườn cây ăn trái của mình. Tuy sản phẩm của họ không được to và đẹp như cách làm trước đây, nhưng an toàn và hương vị thơm ngon hơn, nhờ đó họ bán được với giá cao hơn. Các biện pháp sinh học phòng trừ sâu bệnh ngày càng được họ phát triển với hiệu quả cao. Rồi hợp tác xã được thành lập với số người tham gia tăng dần, thương hiệu trái cây hữu cơ [không có dư lượng hoá chất] của họ tạo được uy tín rông rãi trên thị trường. Sản phẩm dán nhãn hiệu trái cây hữu cơ của hợp tác xã được bán với giá gấp rưỡi hoặc gấp đôi sản phẩm thường. Hợp tác xã ngày càng phát đạt với những cơ sở kiểm tra, đóng bao bì và các kho trữ hàng quy mô để có trái cây tươi bán trong mùa đông với giá cao hơn. Để bảo vệ uy tín thương hiệu, về sau những người nông dân muốn gia nhập hợp tác xã phải chấp nhận điều kiện làm xã viên dự bị hai năm; trong hai năm đó họ phải tuân thủ quy trình sản xuất của hợp tác xã, nhưng sản phẩm của họ chưa được dán nhãn của hợp tác xã để bán giá cao. Chỉ sau hai năm tập dợt và thử thách, nếu xã viên dự bị đáp ứng đầy đủ điều kiện của hợp tác xã, mới trở thành xã viên chính thức. Đó là dấu hiệu rõ nhất về lợi ích của NNHC đối với người nông dân.
Thay vì phân hoá học, NNHC sử dụng các phụ phẩm, phế phẩm nông nghiệp và phân chuồng, chú trọng luân canh cây trồng để bảo vệ độ phì của đất và cắt vòng đời của sâu bệnh, áp dụng các biện pháp sinh học để phòng trừ sâu bệnh và bảo vệ sự đa dạng sinh học, nhờ đó sự cân bằng sinh học trên đồng ruộng được khôi phục. NNHC đáp ứng cao các yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững theo hướng nông nghiệp sinh thái.
Nhu cầu về nông sản hữu cơ [theo cách gọi có tính chất quy ước trên thế giới] ở thị trường trong nước cũng như nước ngoài ngày càng cao. Chính phủ Anh đã quyết định trong vòng 10 năm sẽ tăng quy mô NNHC lên 30% diện tích. Xuất khẩu rau quả hữu cơ là một tiềm năng lớn của các nước nhiệt đới, nơi có thể sản xuất được quanh năm. Tuy nhiên để có được chỗ đứng trên thị trường, cần tạo được lòng tin của người tiêu dùng. Ở các nước công nghiệp, sản phẩm hữu cơ chỉ được chấp nhận trên thị trường sau khi có sự xác nhận của một cơ quan kiểm định chất lượng độc lập, có uy tín. Việc kiểm tra không phải chỉ tiến hành đơn thuần trên sản phẩm sau thu hoạch mà cả quy trình sản xuất từ cách quản lý đất đai, phân bón, nước tưới, hệ thống luân canh, xen canh cây trồng, việc tái sử dụng phế phẩm nông nghiệp, các biện pháp sinh học được ứng dụng để phòng trừ sâu bệnh, đến việc kết hợp chăn nuôi và trông trọt và cả quá trình bảo quản , vận chuyển.
Với những yêu cầu nói trên , việc phát triển NNHC đòi hỏi phải có tổ chức chặt chẽ. Trong giai đoạn đầu ở nước ta, do chưa có hệ thống kiểm định chất lượng thì vấn đề tạo lòng tin cho người tiêu dùng là rào cản lớn nhất mà một mình người nông dân không thể vượt qua. Trong vấn đề này sự liên kết “Bốn nhà” là giải pháp rất cần thiết. Sự kết hợp uy tín của các nhà khoa học hay cơ quan khoa học với uy tín của doanh nghiệp sẽ giúp tạo được phần nào lòng tin ở người tiêu dùng trong bước đầu.
Hiện nay do vấn đề an toàn thực phẩm ngày càng trở nên bức xúc, nhiều địa phương đã phát triển nhanh phong trào sản xuất rau an toàn. Bước đầu tuy vẫn còn dùng phần nào phân hoá học, thuốc trừ sâu [theo đúng quy định], nhưng cũng đã là bước tiến đáng hoan nghênh. Bước tiếp theo để tiến đến nền nông nghiệp sinh thái bền vững là phát triển dần các mô hình NNHC, vì lợi ích chung của xã hội và của bản thân người nông dân. Việc ứng dụng thành công IPM và mô hình VAC cùng biogaz từ nhiều năm qua trên diện rộng là tiền đề thuận lợi cho quá trình thuyết phục người nông dân về lợi ích của NNHC.
Có điều rất đáng nói ở đây: Chuyên khuyên người nông dân dùng loại thuốc gì để  phòng trừ loại sâu bệnh nào, phải dựa vào các cơ quan khuyến nông và các nhà khoa học nhầm đảm bảo tính khách quan và khoa học thì  hàng ngày trên truyền hình của nước ta điều đó bị lấn át bởi đầy rẫy các quảng cáo rất hấp dẫn về các loại thuốc trừ sâu , bệnh, cỏ dại. Chuyện quảng cáo như vậy không thấy xuất hiện trên truyền hình của Nhật Bản mà thay vào đấy là quảng cáo về các món thực phẩm, cửa hàng ăn, các nơi nghỉ ngơi, thư giản bồi bổ sức khoẻ. Có là nghịch lý không, khi Nhật Bản và các nước phương tây là những nơi sản xuất ngày càng nhiều các loại thuốc trừ sâu bệnh độc hại, nhưng lai không hoặc hiếm khi quảng cáo trên truyền hình, thì ngược lại, không có ngày nào quảng cáo lại không nhồi nhét dồn dập vào tâm trí của người nông dân nước ta toàn là ích lợi của các chất độc hại nói trên?  Liệu điều này có cần sớm được điều chỉnh?